Hotline: 024.62511017

024.62511081

  Trang chủ   Sản phẩm   Phần mềm Dành cho nhà trường   Phần mềm Hỗ trợ học tập   Kho phần mềm   Liên hệ   Đăng nhập | Đăng ký

Tìm kiếm

School@net
 
Xem bài viết theo các chủ đề hiện có
  • Hoạt động của công ty (728 bài viết)
  • Hỗ trợ khách hàng (494 bài viết)
  • Thông tin tuyển dụng (57 bài viết)
  • Thông tin khuyến mại (81 bài viết)
  • Sản phẩm mới (218 bài viết)
  • Dành cho Giáo viên (552 bài viết)
  • Lập trình Scratch (3 bài viết)
  • Mô hình & Giải pháp (155 bài viết)
  • IQB và mô hình Ngân hàng đề kiểm tra (126 bài viết)
  • TKB và bài toán xếp Thời khóa biểu (242 bài viết)
  • Học tiếng Việt (182 bài viết)
  • Download - Archive- Update (289 bài viết)
  • Các Website hữu ích (71 bài viết)
  • Cùng Học (98 bài viết)
  • Learning Math: Tin học hỗ trợ học Toán trong nhà trường (74 bài viết)
  • School@net 15 năm (153 bài viết)
  • Mỗi ngày một phần mềm (7 bài viết)
  • Dành cho cha mẹ học sinh (123 bài viết)
  • Khám phá phần mềm (122 bài viết)
  • GeoMath: Giải pháp hỗ trợ học dạy môn Toán trong trường phổ thông (36 bài viết)
  • Phần mềm cho em (13 bài viết)
  • ĐỐ VUI - THƯ GIÃN (360 bài viết)
  • Các vấn đề giáo dục (1209 bài viết)
  • Bài học trực tuyến (1033 bài viết)
  • Hoàng Sa - Trường Sa (17 bài viết)
  • Vui học đường (276 bài viết)
  • Tin học và Toán học (220 bài viết)
  • Truyện cổ tích - Truyện thiếu nhi (181 bài viết)
  • Việt Nam - 4000 năm lịch sử (97 bài viết)
  • Xem toàn bộ bài viết (8222 bài viết)
  •  
    Đăng nhập/Đăng ký
    Bí danh
    Mật khẩu
    Mã kiểm traMã kiểm tra
    Lặp lại mã kiểm tra
    Ghi nhớ
     
    Quên mật khẩu | Đăng ký mới
    
     
    Giỏ hàng

    Xem giỏ hàng


    Giỏ hàng chưa có sản phẩm

     
    Bản đồ lưu lượng truy cập website
    Locations of visitors to this page
     
    Thành viên có mặt
    Khách: 6
    Thành viên: 0
    Tổng cộng: 6
     
    Số người truy cập
    Hiện đã có 82196027 lượt người đến thăm trang Web của chúng tôi.

    Sự phá sản trên thực tế của kỳ thi Đại Học

    Ngày gửi bài: 10/12/2010
    Số lượt đọc: 2282

    Cách đây gần một chục năm, trong bài viết “Những kỳ thi loại bỏ nhân tài” đăng trên báo Sinh Viên, tôi đã phân tích tính chất lạc hậu của kỳ thi đại học ở nước ta hiện nay và đề xuất việc cải cách triệt để cách thức tuyển sinh đại học. Bài viết nhận được khá nhiều phản hồi tích cực. Sau đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng có kế hoạch bãi bỏ kỳ thi đại học, tuy nhiên kế hoạch này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện. Bài viết này tiếp tục bài viết nói trên, với nhiều suy nghĩ mới dựa trên tình hình thực tế của nền giáo dục đại học nước nhà.

    Trước hết, việc duy trì, bãi bỏ, hay cải cách các kỳ thi đại học không thể là một quyết định nóng vội, duy ý chí, mà phải dựa trên một triết lý giáo dục đúng đắn, đáp ứng được ở mức cao nhất những đòi hỏi của xã hội. Thi đại học không phải bao giờ cũng dở, hay ít ra thì cũng không phải bao giờ cũng dở hơn so với không thi đại học.

    Giáo dục, như chúng ta vẫn nói, là đầu tư cho tương lai. Mà đã đầu tư, không thể không nói đến hiệu quả: trong điều kiện nguồn vốn hạn chế (mà trên thực tế thì nguồn vốn bao giờ cũng hạn chế), người ta phải tập trung vào những dự án có tiềm năng nhất, nói nôm na là "trông giỏ bỏ thóc". Trong giáo dục, cách đầu tư như vậy thể hiện qua sự ưu tiên đối với những cá nhân có tiềm năng trí tuệ cao nhất, những người mà ta vẫn gọi là "nhân tài", đồng thời duy trì giáo dục đại trà ở mức hợp lý. Về bản chất, sự ưu tiên đối với các "nhân tài" là nhờ sự "nhường nhịn" của những người còn lại. Sự nhường nhịn ấy sẽ được bù đắp nếu như những người được hưởng ưu tiên thực sự "thành tài", sẽ góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của tất cả mọi người. Việc lựa chọn nhân tài để đầu tư chính là nhiệm vụ của các kỳ thi đại học.

    Những điều trên đặc biệt đúng trong xã hội XHCN, khi giáo dục là nhiệm vụ chung và gần như toàn bộ nguồn vốn cho giáo dục cũng là của chung. Nghiên cứu đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay, ta thấy rằng đa số xuất thân từ nông thôn. Điều này phản ánh đúng cơ cấu xã hội Việt Nam mấy chục năm trước, khi đại đa số người dân sống ở nông thôn. Điều này đồng thời cũng chứng tỏ rằng các kỳ thi đại học trong một giai đoạn nhất định đã hoàn thành khá tốt nhiệm vụ lựa chọn nhân tài, những người có tư chất xuất sắc, chứ không chỉ "biết nhiều". Dĩ nhiên các kỳ thi đại học lúc đó không phức tạp như ngày nay, bởi số người dự thi ít hơn rất nhiều. Bên cạnh đó, sự khác biệt về điều kiện sống không lớn như hiện nay, việc dạy thêm và luyện thi chưa có, và các đề thi đại học cũng chỉ yêu cầu những kiến thức trong sách giáo khoa, nên các em học sinh dù sống ở vùng xa xôi hẻo lánh vẫn có nhiều cơ hội trúng tuyển. Bản thân tôi học ở Phú Thọ hơn 8 năm, chỉ một năm rưỡi cuối cấp ba mới về Hà Nội. Kỳ thi đại học năm 1979, lớp cũ của tôi (ở Phú Thọ) có 4 người đỗ, còn lớp mới (ở Hà Nội) có 5 người đỗ, không kể tôi - nghĩa là sự khác biệt không lớn lắm. Tôi nhớ, trong số bạn bè tôi tập trung ở Hà Nội trước khi đi học ở nước ngoài, tức là những người trúng tuyển với điểm số rất cao, nhiều người chưa bao giờ đến Hà Nội, nhiều người chưa bao giờ biết bia hay bánh mỳ pa-tê là gì. Những người ấy về sau đã nhanh chóng đuổi kịp và thậm chí bỏ xa nhiều sinh viên các nước phát triển hơn như Nga, Bungari, Ba Lan, Đức...

    Thế nhưng ai cũng thấy rằng hiện nay chế độ tuyển sinh đại học đã trở thành một vấn đề nhức nhối. Trong rất nhiều lý do, theo tôi, lý do chính là các kỳ thi đại học nói riêng và nền đại học của ta nói chung vẫn tiếp tục vận hành theo lối cũ, phù hợp với triết lý cũ, trong khi nền tảng kinh tế xã hội đã thay đổi rất nhiều, nếu không nói là cơ bản. Khi chấp nhận kinh tế thị trường, chúng ta buộc phải công nhận vai trò điều tiết của thị trường đối với lực lượng lao động. Trước kia, trong nền kinh tế tập trung, nhà nước quyết định kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và căn cứ vào đó mà xác định kế hoạch phát triển nhân lực. Ngày nay nhu cầu của thị trường và sự cạnh tranh trong chính lực lượng lao động mới là nhân tố quyết định các định hướng giáo dục. Giáo dục, vì thế, trở thành vấn đề thiết thân với từng cá nhân và từng gia gia đình. Cơ cấu vốn cũng thay đổi. Nếu trước kia nguồn vốn cho giáo dục (bao gồm cả trường sở, giáo trình, đội ngũ giáo viên...) đều là của chung và rất hạn chế, thì ngày nay các nguồn vốn của tư nhân tham gia ngày càng nhiều. Các cá nhân, sau khi đóng thuế (tức là tham gia đóng góp cho xã hội, bao gồm cả cho giáo dục) cần được khuyến khích đầu tư cho giáo dục con cái họ, cho dù con cái họ có thể không thuộc nhóm người có tư chất xuất sắc để được hưởng ưu tiên của xã hội. Nỗ lực học tập của bất kỳ ai, cho dù năng lực kém đi chăng nữa, cũng chỉ là điều tốt lành cho xã hội. Không những thế, học tập bằng tiền của mình, đó là một quyền chính đáng của mọi người dân, là một trong những mục tiêu cao cả nhất của cuộc cách mạng 1945. Thế nhưng các kỳ thi đại học đã loại bỏ quyền đó của rất nhiều người.

    Một tác động tiêu cực khác của các kỳ thi đại học là làm gia tăng bất công xã hội. Như tôi đã nói ở trên, cuộc thi đại học là để chọn những người có tư chất tốt. Nhưng lối thi cử nặng về đánh giá kiến thức hiện này tất yếu dẫn đến việc luyện thi tràn lan. Cùng với khoảng phân cách giàu nghèo đang ngày mở rộng, việc thi đại học đang ngày càng đi ngược lại mục đích của nó. Dĩ nhiên, trong số các học sinh được học và luyện thi chu đáo ở thành phố, thị xã, cũng có những em thông minh, tư chất tốt. Nhưng đối với các học sinh nghèo ở tỉnh xa, cơ hội cũng như chất lượng học thêm, luyện thi không thể so với học sinh giàu ở thành phố. Một học sinh dù có phẩm chất trí tuệ tốt nhưng không được luyện thi, sẽ rất khó đạt điểm cao. Đó là chưa nói, với tình trạng thi đại học đại trà như hiện nay, bản thân những người chấm cũng không đủ thời gian để đánh giá chính xác về tư chất của học sinh, mà chỉ thiên về đối chiếu (nhiều khi khá qua loa đại khái) bài thi với đáp án. Kết quả là các kỳ thi đại học không những không chọn được nhân tài, mà trái lại, lại trở thành một nhân tố quan trọng trong việc loại bỏ những học sinh có tư chất, những nhân tài tiềm năng sau này.

    Rõ ràng, thi đại học theo cách hiện nay đã trở thành lạc hậu, nếu không nói là phản tiến bộ. Hậu quả của nó đối với giáo dục có thể so sánh với hậu quả của chính sách ngăn sông cấm chợ đối với thương nghiệp vào cuối thập kỷ 1970.

    Xã hội đã phản ứng lại các cuộc thi này như thế nào?

    Những gia đình có điều kiện kinh tế đưa con ra nước ngoài, nơi cổng trường đại học lúc nào cũng sẵn sàng chào đón. Trên thực tế, không phải ai cũng muốn cho con du học. Ngoài tốn kém về tài chính và sự xa cách tình cảm, họ còn có mối lo làm sao theo dõi việc học hành, sinh hoạt của con em mình nơi đất khách quê người. Nhưng họ đâu có sự lựa chọn nào khác. Họ không thể nhắm mắt mặc kệ con em mình đứng ngoài nhìn vào trường đại học, nhất là ở một xã hội trọng bằng cấp như Việt Nam. Vì thế, số du học sinh Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng, đến mức có người gọi là “di tản giáo dục”. Theo con số thống kê của Bộ GD-ĐT, số du học sinh Việt Nam tại các cơ sở đào tạo nước ngoài hiện này là khoảng 60.000[1]. Ngoài nguy cơ chảy máu chất xám mà rất nhiều học giả và các nhà quản lý đã đề cập, số du học sinh này cũng đem ra nước ngoài một lượng ngoại tệ lên đến hàng tỷ dollar Mỹ mỗi năm. Một phần đáng kể của lượng ngoại tệ khổng lồ này đáng lẽ được giữ lại Việt Nam phục vụ cho các kế hoạch phát triển đất nước, trong đó có ngành giáo dục đại học đang thiếu vốn đầu tư trầm trọng.

    Tất nhiên, không phải gia đình nào cũng có thể gửi con ra nước ngoài. Vì thế, người ta phải tìm cách khác. Một trong những cách khác đó là ồ ạt lập thêm nhiều trường đại học mới, đồng thời nâng cấp hàng loạt trường cao đẳng lên đại học và hàng loạt trường trung cấp lên cao đẳng. Theo số liệu thống kê của Bộ GD-ĐT, nếu năm 1987 cả nước có 107 trường đại học và cao đẳng, thì năm 2009 con số này là 376 trường, tăng 3,7 lần. Riêng 2 năm 2006-2007 đã có gần 40 trường ĐH mới được thành lập hoặc nâng cấp từ cấp thấp hơn. Nhờ sự gia tăng nhanh chóng về số trường, tổng số sinh viên cũng tăng 13 lần, từ trên 133.000 năm 1987 lên trên 1,7 triệu năm 2009[2]. Việc ồ ạt mở các trường đại học và cao đẳng trong những năm vừa qua bị nhiều người phê phán nhưng theo tôi nó là kết quả tất yếu của sức ép xã hội. Cho dù chất lượng các trường đại học còn thấp, nhưng dù có cũng còn hơn không. Tác giả Mỹ Chico Harlan, trong bài viết “Vietnamese teens' thirst for college outpaces country's educational system” trên tờ Washington Post, so sánh rằng với dân số gần 89 triệu dân, Việt Nam có chưa tới 400 trường đại học và cao đẳng, trong khi Mỹ, với dân số 310 triệu, có tới hơn 4.400 trường. Tác giả này cũng cho biết, tỷ lệ sinh viên so với dân số của Việt Nam chỉ bằng một nửa của Thái Lan và một phần ba của Hàn Quốc[3].

    Việc tăng nhanh số trường đại học và cao đăng trong bối cảnh chất lượng giáo dục phổ thông chưa được cải thiện cũng tất yếu dẫn đến một hậu quả khác mà thoạt nhìn là tiêu cực, nhưng thức chất lại là tích cực. Đó là buộc Bộ GD và ĐT phải quy định điểm sàn tuyển sinh thấp và có xu hướng giảm dần. Trong bảng là điểm sàn tuyển sinh đại học do Bộ GD và ĐT công bố trong bảy năm gần đây:

    Nguồn: Thu thập và đối chiếu từ các báo trong nước

    Tất nhiên điểm thi đại học còn phụ thuộc và mức độ khó hay dễ của đề thi. Vì thế, nếu không muốn hạ điểm sàn, Bộ GD-ĐT còn có thể chọn cách khác, đó là ra đề dễ hơn. Dù chọn cách nào, thì mục đích cũng vẫn là nhằm thỏa mãn đòi hỏi của xã hội trong việc mở rộng hơn cánh cửa vào trường đại học.

    Cùng với việc ồ ạt lập thêm nhiều trường đại học mới là sự nở rộ của các chương trình đào tạo đại học không chính quy (được tổ chức dưới hình thức liên kết giữa một trường đại học và các tổ chức khác nhau) và các chương trình liên thông từ trung cấp lên cao đẳng và đại học. Các chương trình đào tạo không chính quy và liên thông từ bậc trung cấp cũng chịu nhiều phê phán, nhưng mặt tích cực của nó là mở ra cơ hội giành tấm bằng đại học cho phần lớn những ai mong muốn.

    Tóm lại, bằng nhiều cách, kỳ thi đại học xã hội đang dần dần bị xã hội vô hiệu hóa và mất dần ý nghĩa. Vậy chúng ta nên làm thế nào? Theo tôi, chúng ta nên nhìn thẳng vào thực tế. Hãy noi theo đa số các quốc gia phát triển, bỏ thi đại học đại trà, cho phép các trường tự tuyển sinh và áp dụng chế độ thu học phí cạnh tranh. Về vấn đề này, tôi đã đề cập khá chi tiết trong bài “Học phí đại học: cần một cách tiếp cận khác”, ở đây chỉ xin tóm tắt vài ý chính. Theo tôi, mức học phí phải cao hơn đáng kể so với hiện nay, vào khoảng 2-3 triệu đồng/ tháng. Tuy nhiên, không phải tất cả các sinh viên đều phải nộp mức học phí. Chúng ta nên căn cứ vào kết quả học tập để phân loại sinh viên và áp dụng các mức học phí khác nhau. Chẳng hạn, 10% sinh viên xuất sắc nhất không những không phải trả tiền học phí, mà còn nhận được học bổng, đủ để chi trả tiền nhà và sinh hoạt; 30% tiếp theo được miễn học phí. Như vậy, chỉ có 60% phải nộp học phí. Với chính sách học phí như vậy, chúng ta có thể hỗ trợ các sinh viên nghèo học giỏi, tạo cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích các em nỗ lực học tập, giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia, đồng thời góp phần nâng cao mức sống của giảng viên và từ đó chống tiêu cực trong giáo dục.

    Bên cạnh đó, chúng ta nên thành lập một vài trường đại học trình độ cao với chế độ thi tuyển rất chặt chẽ. Sinh viên các trường này được hưởng học bổng toàn phần đủ để họ toàn tâm toàn ý vào học tập nghiên cứu. Các học bổng này là sự ưu tiên của xã hội để đào tạo tầng lớp trí thức tinh hoa của đất nước, vì thế nó không chỉ dựa trên kết quả thi đầu vào, mà được quyết định lại hàng năm căn cứ vào kết quả học tập. Để giảm bớt bất bình đẳng xã hội, chế độ học phí của các trường đại học khác có thể có nhiều mức, căn cứ vào thu nhập của cha mẹ, địa phương xuất thân của sinh viên và tính chất ưu tiên đối với những ngành hoặc khu vực địa lý...Mỗi trường cũng có thể có các học bổng đặc biệt dành cho các đối tượng khác nhau, như những người có thành tích đặc biệt về thể thao, nghệ thuật, những người có hoạt động xuất sắc vì cộng đồng...Ngoài ra, các trường đại học cần chủ động kêu gọi các công ty, tổ chức và các nhà hảo tâm lập ra các học bổng nhằm khuyến khích tài năng hoặc trợ giúp những sinh viên có hoàn cảnh đặc biệt.

    Bỏ thi đại học, theo tôi, là một quan điểm rất tiến bộ. Nó đảm bảo sự bình đẳng về cơ hội học tập, bởi học tập là quyền chính đáng của mọi người, mặc dù xuất phát điểm có thể khác nhau. Vì vậy, nếu chúng ta không chủ động quyết định, chúng ta sẽ bị cuộc sống bỏ qua.

    7/12/2010

    (Bản rút gọn đã đăng trên Văn nghệ trẻ)



    Ngô Tự Lập

    (Khoa Quốc tế - ĐHQGHN)




    -----------------------------------------------------

    [1] http://www.cphud.danang.gov.vn/index.php/component/content/article/104-thanh-ph-a-nng/1150-60000-du-hc-sinh-ngun-nhan-lc-tng-lai-.html

    [2] http://www.giaoduc.edu.vn/news/nhip-cau-su-pham-758/tham-quyen-mo-truong-dai-hoc-thu-tuong-hay-bo-truong--133276.aspx

    [3] http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2010/07/23/AR2010072303685.html

    Schoolnet



     Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


    Những bài viết khác:



    Lên đầu trang

     
    CÔNG TY CÔNG NGHỆ TIN HỌC NHÀ TRƯỜNG
     
    Phòng 804 - Nhà 17T1 - Khu Trung Hoà Nhân Chính - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
    Phone: 024.62511017 - 024.62511081
    Email: kinhdoanh@schoolnet.vn


    Bản quyền thông tin trên trang điện tử này thuộc về công ty School@net
    Ghi rõ nguồn www.vnschool.net khi bạn phát hành lại thông tin từ website này
    Site xây dựng trên cơ sở hệ thống NukeViet - phát triển từ PHP-Nuke, lưu hành theo giấy phép của GNU/GPL.